Tổng hợp những bệnh xã hội, bệnh nam khoa, bệnh phụ khoa hót nhất hiện nay. Đưa đến bạn hướng điều trị tốt nhất

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

TÚC THIẾU ÂM THẬN KINH

1/ KINH CHÍNH
Khởi đầu từ dưới ngón chân út, chạy cũng như lòng bàn chân, xuất ra nơi chỗ lõm dưới mấu xương thuyền, theo phía sau mắt cá trong, đến gót chân. Từ đó chạy lên phía bờ trong cẳng chân, ra mép trong nhượng chân,
lên bờ sau trong đùi, thông qua cột sống cũng như liên hệ với Thận cũng như Bàng Quang.
Một nhánh khác từ Thận chạy đến Can, qua cơ hoành nhập cũng như giữa Phế, rồi đi dọc theo cuống họng để đến tận cuống lưỡi. Một nhánh tán ra giữa ngực, nhập cũng như Tâm cũng như liên hệ với Tâm Bào Lạc.
Nhánh chính từ Thận nổi lên ở bờ trên xương mu, đi thẳng lên bụng, cách đường giữa thân 0, 5 thốn, kết ở gian sườn 1.
hiện tượng
Kinh Bệnh: miệng nóng, lưỡi khô, họng cũng như thanh quản sưng, cột sống đau, mặt trong chân đau hoặc yếu lạnh, lòng bàn chân nóng.
Tạng Bênh: phù thũng, tiểu không thông, ho ra máu, muốn nằm, suyễn, mắt hoa, hồi hộp, da xạm, tiêu chảy lúc canh năm [sáng sớm].
1. Dũng tuyền
Vị trí: Ở chính giữa phía trước lòng bàn chân (H. 77)
Cách lấy huyệt: Nằm ngửa, ngón chân quặp cũng như lòng bàn chân, có một chỗ lõm như hìnhchữ nhân, tiếp giáp da dày chai cũng như da mỏng hơn.
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 0,3-0,5 thốn. Cứu 3 mồi, hơ 5 phút.
Chủ trị: Đau bên đầu, trẻ em kinh phong co giật, say nắng, hôn mê, cao huyết áp, bệnhtinh thần.
Tác dụng phối hợp: Với Hành gian trị bệnh tiêu khát đái thận (đái đường); với Túc tam lý có tác dụng nâng huyết áp, khích thích khỏe tim, trị chứng trúng độc bất tỉnh; với Thiếuthương, Nhân trung trị trẻ em bệnh phong.
2. Nhiên cốc
Vị trí: Phía trước cũng như dưới mắt cá trong, phía trước cũng như dưới xương thuyền, có chỗ lõm (H. 77)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-1,5 thốn. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Viêm bàng quang, kinh nguyệt không đều, đái đường, hầu họng sưng đau.
3. Thái khê
Vị trí: Ở giữa chỗ lõm sau mắt cá trong chân (H. 77)
Cách lấy huyệt: Bàn chân để bằng phẳng, sau mắt cá trong chân 0,5 thốn, ấn tay thấy có chỗ lõm ở giữa gân gót cũng như mắt cá trong chân là huyệt, đối chiều trong ngoài với huyệt Cônluân.
 http://www.cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/YHocCoTruyen_Thuy/TucThieuAmH77.gif
Hình 77

Cách châm: Châm mũi kim hướng ra mắt cá ngoài, sâu đến 0,5 thốn, hoặc châm thấuhuyệt
Côn luân. Cứu 3-7 mồi, hơ 5-10 phút.
Chủ trị: Bong gân khớp cổ chân, đau răng, chóng mặt (do rối loạn tiền đình), nấc, mất ngủ,
đau hầu họng, ù tai, kinh nguyệt không đều, liệt dương, di tinh, đái dầm, ho.


 Tác dụng phối hợp: Với Côn luân trị sưng bàn chân; với Trung chử trị đau hầu họng; với
Thiếu trạch trị khô họng.
4. Đại chung
Vị trí: Chỗ lõm phía dưới, sau mắt cá trong chân (H. 77)
Cách lấy huyệt: Bàn chân để bằng phẳng, từ Thái khê xuống 0,5 thốn hơi lùi về phíasau, chỗ lõm gần gót bám cũng như xương gót.
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 0,3-0,5 thốn. Cứu 3 mồi, hơ 5 phút.
Chủ trị: Ho hen, ho ra máu, suy nhược thần kinh, lưng dưới lưng trên cứng đau, đau gót chân, táo bón.
Tác dụng phối hợp: Với Thông lý trị mệt mỏi, ngại nói, ham nằm; với Đại trường du trị táo bón kéo dài.
5. Thủy tuyền
Vị trí: Từ Thái khê thẳng xuống 1 thốn (H. 77)
Cách lấy huyệt: Bàn chân để bằng phẳng, từ Thái khê xuống 1 thốn, chỗ lõm trướckhớp gót chân.
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 0,3-0,5 thốn. Cứu 3 mồi, hơ 5 phút.
Chủ trị: Kinh nguyệt không đều, sa dạ con, tiểu tiện khó, đau mắt, đau răng.
Tác dụng phối hợp: Với Thiên khu trị kinh nguyệt không đều.
6. Chiếu hải
Vị trí: Ở phía dưới mắt cá trong chân.
Cách lấy huyệt: Người bệnh ngồi xếp vòng tròn, hai lòng bàn chân úp cũng như nhau, giữalồi mắt cá trong chân thẳng xuống bờ dưới của mắt cá chỗ giáp xương cổ chân. (H. 78)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 0,3-0,5 thốn. Cứu 3-7 mồi, hơ 5-10 phút.
Chủ trị: Mất ngủ, điên dại, táo bón, ỉa lỏng cũng như lúc sáng sớm, kinh nguyệt không đều,ngứa hạ bộ.
Tác dụng phối hợp: Với Liệt khuyết trị ho, hen suyễn; với Chi câu trị táo bón; với Bách hội,Thái xung trị đau hầu họng.
7. Phục lưu
Vị trí: Từ Thái khê thẳng lên 2 thốn (H. 77)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-1,5 thốn. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Viêm thận, viêm tinh hoàn, mồ hôi trộm, ỉa chảy, đau lưng.
 
 http://www.cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/YHocCoTruyen_Thuy/TucThieuAmH78.gif

Hình 78 – Hình 79
8. Giao tín
Vị trí: Từ mắt cá trong lên 2 thốn, sát cạnh xương chày. (H. 77)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Kinh nguyệt không đều, băng lậu huyết, ỉa chảy, táo bón, viêm tinh hoàn.
9. Trúc tân
Vị trí: Từ Thái khê thẳng lên 5 thốn, sau cạnh trong xương chày 2 thốn (H. 77)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Cơ tam đầu cẳng chân co rúm, động kinh, bệnh tinh thần.
10. Âm cốc
Vị trí: Ngồi ngay co đầu gối vuông góc, ở hố lõm đầu trong nếp gấp khuỷu chân, lấy giữahai gân. (H. 79, xem thêm H. 61).
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Đau đầu gối, bụng dưới trướng đau, bệnh ở bộ máy sinh dục.
11. Hoành cốt
Vị trí: Dưới rốn 5 thốn là huyệt Khúc cốt, từ đó sang ngang mỗi bên 0,5 thốn là huyệt.(H.80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Tiểu tiện khó, đau sán khí, đái dầm, di tinh, liệt dương.
12. Đại hách
Vị trí: Trên Hoành cốt 1 thốn, tứ là huyệt Trung cực sang ngang mỗi bên 0,5 thốn. (H. 80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Di tinh, khí hư quá nhiều, đau hạ bộ.
13. Khí huyệt
Vị trí: Từ Hoành cốt lên 2 thốn, tứ là huyệt Quan nguyên sang ngang mỗi bên 0,5 thốn. (H.80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Ỉa chảy, kinh nguyệt không đều.
14. Tứ mãn
Vị trí: Huyệt Hoành cốt lên 3 thốn, tức là huyệt Thạch môn sang ngang mỗi bên 0,5 thốn.(H. 80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Băng lậu huyết, đau bụng sau đẻ, ỉa chảy.
15. Trung chú
Vị trí: Từ huyệt Âm giao (dưới rốn 1 thốn) sang ngang mỗi bên 0,5 thốn là huyệt. (H. 80)

Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Kinh nguyệt không đều, đau bụng dưới, táo bón.

 http://www.cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/YHocCoTruyen_Thuy/TucThieuAmH79.gif
Hình 80.

16. Hoang du
Vị trí: Giữa rốn ra 0,5 thốn, gần sát bờ lỗ rốn. (H. 80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: cũng nhưng da, đau dạ dày, đau sán khí, táo bón, đau bụng hành kinh.
17. Thương khúc
Vị trí: Từ huyệt Hoang du lên 2 thốn, tức là huyệt Hạ quản sang ngang mỗi bên 0,5 thốn.(H.80).
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Đau dạ dày, đau sán khí, viêm phúc mạc, ăn không ngon.
18. Thạch quan
Vị trí: Huyệt Hoang du lên 3 thốn, tức là huyệt Kiến lý sang ngang mỗi bên 0,5 thốn. (H. 80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Đau dạ dày, nấc, táo bón, đau bụng sau đẻ.
19. Âm đô
Vị trí: Huyệt Hoang du lên 4 thốn, tức là huyệt Trung quản sang ngang mỗi bên 0,5 thốn.(H.80)
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Sôi bụng, đau bụng, trướng bụng.
20. Thông cốc
Vị trí: Huyệt Hoang du lên 5 thốn, tức là huyệt Thượng quản sang ngang mỗi bên 0,5 thốn. (H. 80).
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Nôn mửa, ỉa chảy, đau bụng, trướng bụng.
21. U môn
Vị trí: Huyệt Hoang du lên 6 thốn, tức là huyệt Cự khuyết sang ngang mỗi bên 0,5 thốn.(H.80).
Cách châm: Châm đứng kim, sâu 1-2 thốn, phụ nữ có thai cấm châm. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Đau ngực, ợ hơi nóng, nôn mửa, ỉa chảy.
22. Bộ lang
Vị trí: Huyệt Trung đình sang ngang mỗi bên 2 thốn, khe liên sườn 5-6. (H. 80).
Cách châm: Châm chếch kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 3 mồi.
Chủ trị: Đau thần kinh liên sườn, viêm hung mạc, viêm phế quản.
3. Thần phong
Vị trí: Huyệt Chiên trung (Đản trung) sang ngang mỗi bên 2 thốn, khe liên sườn 4-5 (H. 80).
Cách châm: Châm chếch kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Đau thần kinh liên sườn, viêm hung mạc, viêm phế quản, viêm tuyến vú.
24. Linh khư
Vị trí: Huyệt Ngọc đường sang ngang mỗi bên 2 thốn, khe liên sườn 3-4. (H. 80).
Cách châm: Châm chếch kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Ho, suyễn, đầy tức ngực, không muốn ăn, viêm tuyến vú, đau thần kinh liênsườn, nôn mửa.
25. Thần tàng
Vị trí: Huyệt Tử cung sang ngang mỗi bên 2 thốn, khe liên sườn 2-3. (H. 80)
Cách châm: Châm chếch kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Ho hen, nôn mửa, đau thần kinh liên sườn.
26. Hoắc trung
Vị trí: Từ huyệt Hoa cái sang ngang mỗi bên 2 thốn, khe liên sườn 1-2. (H. 80)
Cách châm: Châm chếch kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Ho, hen, nôn mửa, đau ngực.
27. Du phủ
Vị trí: Huyệt Toàn cơ sang ngang mỗi bên 2 thốn, ở gần đầu trong phía dưới xương đòn cóchỗ lõm. (H. 80)
Cách châm: Châm chếch kim, sâu 0,5-1 thốn. Cứu 5 mồi.
Chủ trị: Ho, hen, đau ngực, nôn mửa.


Share:

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH THEO YHCT

ĐẠI CƯƠNG
      Y học cổ truyền đã chia nguyên nhân gây bệnh ra làm mấy loại sau :
- Hoàn cảnh thiên nhiên (khí hậu, địa lý...) tác động đến con người cũng như thường gom cũng như 6 loại gọi chung là 6 khí : Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nóng), Thấp (ẩm ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nhiệt) tức lục khí, lục Dâm gọi là nguyên nhân bên ngoài.
- Hoàn cảnh gây ra những rối loạn Tâm sinh lý do 7 thứ tình (Vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ) gọi là nguyên nhân bên trong.
- Các nguyên nhân khác như : đàm ẩm, chấn thương, rắn cắn...(Bất nội ngoại nhân )
A.- NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI (NGOẠI NHÂN)
Lục khí (Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa) của khí hậu, khi biến đổi bình thường thì cơ thể thích nghi dễ dàng. Tuy nhiên, khi khí hậu không bính thường, thường gọi là trái gió... trở trời... thì lại là nguyên nhân gây bệnh gọi là Lục dâm, lục tà.
Tà khí luôn quan hệ với thời tiết, gây bệnh cũng như 1 mùa thích hợp như : mùa xuân - Phong tà, mùa hè - Hỏa tà cũng như Thử tà, mùa thu – Táo tà, mùa đông – Hàn tà...
1.- PHONG
- Phong mang đặc tính dương, dương thì động, do đó hay gây co rút, kinh giật .
- Phong là gió, gió nhẹ nên hay bốc lên, do đó đầu mặt hay bị (miệng giật , miệng méo, mắt xếch...) cũng như đi ra ngoài gây ra sợ gió, gai rét...
- Phong khí gắn với Mộc khí, chủ sự chuyển động, do đó, hay di chuyển chỗ này chỗ khác, gọi là "Phong động", thường gặp trong các chứng đau nhức khớp xương. Ngoài ra, Phong di động mau lẹ nên gây bệnh cũng nhanh cũng như rút đi cũng nhanh, bệnh nặng đấy mà cũng nhẹ đấy.
- Sách 'Y Tông Kim Giám' : trên trời là Phong, dưới đất là Mộc, ở người là Can... do đó, Can khí là Phong khí có liên hệ với nhau. Các bệnh về Phong khí, đều thuộc về Can.
Phong có thể kết hợp với các tà khí khác gây bệnh, chủ yếu là kết hợp với Hàn tà, Nhiệt tà cũng như Thấp tà.
a.     Phong hàn : do Phong tà cũng như Hàn tà kết hợp với nhau
+ Cảm lạnh : chảy nước mũi, sợ lạnh (biểu hiện của Hàn) sợ gió, mạch phù (biểu hiện của Phong).
+ Thời tiết lạnh (Hàn tà) làm đau dây thần kinh ngoại biên (Phong).
+ Dị ứng lạnh (hắt hơi, ban chẩn) cũng như đau khớp do lạnh.
b.     Phong nhiệt : kết hợp Phong tà cũng như Nhiệt tà
+ Cảm sốt : sốt, họng viêm, nước tiểu cũng nhưng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi cũng nhưng (là dấu hiệu của nhiệt), mạch phù, sợ gió (dấu hiệu của Mộc).
+ Mắt ( dấu hiệu của Can Mộc) viêm, đau, đỏ (dấu hiệu của nhiệt).
c.      Phong thấp : kết hợp giữa Phong tà cũng như Thấp tà
+ Viêm khớp dạng thấp (do máu huyết không thông bị ứ trệ, tỳ ố thấp, thấp khí làm cho tỳ suy, không thống được huyết, huyết bị đình trệ gây ra tê mỏi), đau nhức ở các phần thần kinh ngoại biên.
+ Phù dị ứng, eczema.
2.- HÀN
Hàn là âm tà, do đó, thường làm hại dương (trong cơ thể phần biểu, ngoài da, liên hệ đến dương).
Hàn khí xâm nhập cũng như cơ thể bằng 2 cách :
+
   Thương hàn : Hàn tà phạm cũng như phần Biểu bên ngoài.
+
  Trúng hàn : Hàn tà nhập thẳng cũng như tạng phủ.
Hàn tà có tính cách ngưng trệ, do đó khi xâm nhập cũng như cơ thể làm cho máu huyết đình trệ, đau nhức...
Hàn có tính cách co rút do đó thường gây ra chứng co rút các cơ,
Bệnh chứng của hàn:
Hàn thường kết hợp với Phong cũng như Thấp, gây ra Phong hàn cũng như Hàn thấp, Hàn thấp thường biểu hiện : Tiêu chảy, nôn do lạnh, bụng đau âm ỉ.
Hàn tà cũng như kinh mạch thì gân xương đau nhức cũng như co rút, chuột rút, cổ vẹo khó xoay trở。
Hàn tà cũng như tạng phủ thì nôn ra nước trong, tiêu lỏng, bụng đau, thích chườm nóng, chân tay lạnh, mạch Trầm Trì.
3.- THỬ: Thử là nắng, thường gặp cũng như mùa hè.
+ Thử là dương tà, cho nên mang đặc tính sốt viêm nhiệt.
+ Tính hay thăng tán, do đó dễ làm tiêu hao tân dịch... cũng như mùa hè cũng như những ngày nắng trời, người ta thường mất nhiều mồ hôi, khát nóng sốt.
+ Thường phối hợp với thấp, nhất là cuối hè sang thu, gây ra chứng lỵ, tiêu chảy.
Chứng bệnh của Thử
Sốt cao, nhức đầu, khát nước, người buồn bực khó chịu, có mồ hôi, mạch hồng sác, chia làm 3 loại :
- Dương thử còn gọi là trúng thử : do ở lâu ngoài nắng, bỗng ngã lăn ra mê man, không biết gì, bản chất là Nhiệt.
- Âm thử, còn gọi là Thương thử : do mùa Hè, chỉ ở trong mát, ăn nhiều thức ăn sống lạnh làm âm khí lấn át dương khí gây ra : sốt cao, do đó sợ lạnh, đầu đau, bụng đau, thổ tả, bản chất bệnh là hàn.
- Thử thấp : do mùa Hè lội nước, dầm mưa ở nơi ẩm thấp làm cho Thử hợp với Thấp xâm phạm cũng như ruột gây ra
lỵ, hoặc thổ tả.
4.- THẤP
+ Thấp chủ sự nặng nề, đình trệ, do đó các chứng có kèm thêm thấp thường thấy tay chân nặng nề.
+ Thấp hay gây dính, nhớt : miệng dính nhớt, tiểu khó.
+ Thấp bài tiết chất đục (trọc khí) : đại tiện lỏng, nước tiểu đục, huyết trắng...
+ Thấp là âm tà, thường làm hại dương khí gây trở ngại cho khí vận hành. Thí dụ : Thấp làm dương khí của Tỳ giảm sút, tác động đến sự vận hóa thủy dịch, gây phù thũng, tiêu hóa kém...
+ Thấp nhiệt là sự kết hợp giữa nhiệt cũng như thấp, chủ yếu do nhiệt : kiết lỵ, nhiễm khuẩn ở bộ phận sinh dục, tiết niệu...
Sách "Y Tông Kim Giám" : Trên trời là Thấp, dưới đất là Thổ, ở người là Tỳ, Thấp khí thông với Tỳ khí, vì vậy các bệnh gây nên bởi thấp khí đều thuộc về Tỳ.
5. TÁO
là độ khô ráo, hay gặp cũng như mùa Thu, chia làm 2 loại : Ôn Táo cũng như Lương Táo, thường xâm phạm từ mũi, miệng, Phế cũng như Vệ khí cũng như bên trong cơ thể.
Sách "Y Tông Kim Giám" : Trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, Táo khí thông với Phế khí, vì thế các bệnh gây ra bởi Táo khí đều thuộc về Phế.
Bệnh chứng của táo :
Táo có tính cách khô ráo, do đó, hay làm tổn thương tân dịch cũng như thủy dịch trong cơ thể gây ra
- Lương Táo : Cảm phải gió heo may hiu hắt của mùa Thu (còn gọi là Phong Táo) gây ra : sốt, sợ lạnh. Đầu đau, ho khan, họng khô, mũi nghẹt, không có mồ hôi...
- Ôn Táo : Cảm phải khí mùa Thu, lạnh lâu không mưa gây nên (còn gọi là Nhiệt Táo) gây nên : Sốt cao, ít sợ lạnh, đầu đau, ngực đau, mũi khô, miệng khát, trong người bứt rứt, lưỡi đỏ... hay gặp trong các bệnh truyền nhiễm về mùa Thu như : Sốt xuất huyết, Viêm não...
- Ôn táo hay làm khô tân dịch, do đó dễ gây mất điện giải sinh ra nhiễm độc hệ thần kinh cũng như vận mạch : Hôn mê, vật vã, xuất huyết...
6. HỎA
- Hỏa hay bốc lên (như hình dáng ngọn lửa bốc cháy) vì thế hay gây ra viêm nhiệt ở phần trên. Thí dụ : Hỏa của Vị vượng, gây lở loét môi miệng, lợi răng... (Tỳ khai khiếu ở miệng).
+ Hỏa của Can vượng gây nên mắt sưng, mắt đau, mắt đỏ... (Can khai khiếu ở mắt).
+ Hỏa của Tâm vượng gây nên lưỡi lở loét sưng dộp... (Tâm khai khiếu ở lưỡi).
- "Tâm chủ huyết" do đó, Hỏa dễ gây chảy máu : chảy máu cam (hỏa của Phế vượng), Tiểu ra máu (Hỏa của Thận vượng), Ói ra máu (Hỏa của vị vượng)...
- Hỏa vượng lên, phản khắc lại Thủy, do đó thường làm hao đốt tân dịch (thủy khí), gây ra khát nước, miệng khô, táo bón...
- Sách "Y Tông Kim Giám" : Trên trời là Hỏa, dưới đất là Nhiệt, ở người là Tâm... Hỏa khí thông với Tâm khí, do đó, các bệnh gây nên bởi Hỏa khí đều thuộc về Tâm.
Chứng bệnh của Hỏa
- Hỏa sinh Nhiệt, nhiệt có thể kết hợp với các khí khác gây nên bệnh như : Phong Nhiệt, Thấp Nhiệt, Thử Nhiệt, Táo Nhiệt...
- cũng như mùa Hè (Hỏa khí vượng), hay gây nên các bệnh nhiễm khuẩn : mụn nhọt, phổi viêm, họng viêm... Nếu nhiệt quá độ, thành Hỏa, gây sốt rất cao, có khi mê sảng, phát cuồng...
- Gây các chứng bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát, có hoặc không có biền chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, chảy máu : Mặt đỏ, mắt đỏ, sợ nóng, khát, tiểu ít, đỏ, chảy máu cam, đại tiện ra máu...
B.- NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG ( NỘI NHÂN)
a) Thất tình
Nguyên nhân bên trong chủ yếu do thất tình gây nên. Vui (hỷ), giận (nộ), buồn (ai), lo, nghĩ, kinh sợ,. Bảy tình này kích thích quá độ hoặc kéo dài, sẽ tác động đến sự tuần hoàn của khí huyết làm rối loạn chức năng của tạng phủ gây nên bệnh : huyết áp cao, bao tử loét, thần kinh suy nhược...
b) Thất tình cũng như tạng phủ
- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hóa ra thất tình : can sinh ra giận dữ, tâm sinh ra vui mừng, Tỳ sinh ra nghĩ, phế sinh ra lo, thận sinh ra sợ...
- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của cơ thể : giận quá hại can (nộ thương can), mừng quá hại tâm (hỷ thương tâm), lo quá hại hại tỳ (ưu thương tỳ), buồn quá hại phế (bi thương phế), sợ quá hại thận (khủng thương thận).
- Thất tình làm tác động đến sự thăng giáng khí của tạng phủ : sách Nội Kinh : "Giận làm khí bốc lên, mừng làm khí hãm, buồn làm khí tiêu, sợ làm khí hạ, kinh làm khí loạn, nghĩ làm khí kết...".
hiện tượng chung là : tính tình thay đổi, mừng giận buồn vui thất thường, mất ngủ, mộng nhiều, ăn kém, không biết đói, đầu đau, ngực tức, hay ngáp vặt, thở dài, mệt mỏi, nặng hơn thì tinh thần hốt hoảng, dễ kinh sợ, nói năng sai lạc, điên dại, ngẩn ngơ... kèm theo những hội chứng rối loạn của tạng phủ như : tiểu nhiều (thận), thở mệt (phế)...
- Thất tình thường gây nhiều bệnh ở 3 tạng chính là tâm, tỳ cũng như can.
+ Tâm : ngực đau tức, mất ngủ, hay quên, tinh thần không ổn định, cười nói huyên thuyên , điên cuồng...
+ Can : hay cáu gắt, hông sườn đầy tức, kinh nguyệt không đều...
+ Tỳ : ăn uống kém, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa...
Có thể hiểu như sau : thất tình, biểu hiện của âm chứng : buồn, lo... Âm sinh âm, do đó, thường làm cho phần âm của cơ thể bị tổn hại, phần âm của cơ thể giữa gặp nhất chính là huyết. Ba tạng Tâm, Can cũng như Tỳ liên hệ trực tiếp đến huyết (Tâm chủ huyết, Can tàng huyết cũng như Tỳ thông huyết, do đó 3 tạng này thường chịu tác động nhiều của thất tình.
C.- NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHÁC (BẤT NỘI NGOẠI NHÂN)
Là tất cả những nguyên nhân khác, không do cảm nhiễm bởi tà khí lục dâm, cũng không phải do thất tình làm cơ thể suy yếu mà sinh bệnh, cụ thể là : đàm, huyết ứ, lao động gắng sức.

1.     Đàm ẩm
1.1. Đại cương : đàm ẩm là chất đặc, ẩm là chất trong loãng. Đàm ẩm là 1 sản phẩm bệnh lý.
1.2. Nguồn gốc : do tân dịch ngưng tụ hóa thành. Chủ yếu do 3 tạng Tỳ, phế cũng như thận không làm được công năng vận chuyển thủy dịch gây nên, Tỳ vận hóa thủy thấp, đưa lên phế, Phế truyền xuống cho Thận thải ra ngoài. Nếu 1 trong 3 tạng trên bị suy kém, không vận hóa được thủy dịch, thủy dịch đọng lại gây nên đàm ẩm.
1.3. Tác động : Sau khi hình thành, đàm ẩm theo khí vận chuyển trong cơ thể, gây tác động đến sự vận hành khí huyết, sự thăng giáng của khí, gây ra bệnh.
1.4. Bệnh chứng của đàm ẩm :
1.4.1. Đàm :
+ Đàm đình trệ ở phế, gây hen suyễn, khạc đàm...
+ Đàm đình trệ ở tâm, che lấp làm tâm không khai thông được sinh ra điên cuồng, lưỡi cứng không nói được...
+ Đàm đình trệ ở ngực gây ra tức ngực, suyễn.
+ Đàm nghịch lên ở phía trên gây ra chứng huyền vựng (chóng mặt).
+ Đàm đình trệ ở kinh Thiếu dương gây ra sốt rét.
1.4.2. Ẩm :
+ Ẩm tràn ra cơ nhục gây phù thũng.
+ Ẩm tràn ra ngực sườn gây ho suyễn.
+ Ẩm cũng như Tỳ gây sôi bụng, đầy bụng, kém ăn...
1.5. Hội chứng bệnh do đàm ẩm gây ra :
+ Phong đàm : hoa mắt, chóng mặt, đột nhiên ngã qụy, khò khè, miệng méo, lưỡi cứng không nói được, thường gặp nơi người Động kinh.
+ Nhiệt đàm : đầu mặt nóng, táo bón, họng đau, điên cuồng...
+ Hàn đàm : ho ra đàm lỏng, xương đau dữ dội, mạch trầm trì...
+ Thấp đàm : người nặng nề, mệt mỏi...
+ Lao hạch : còn được gọi là Tràng nhạc, Loa lịch, hạch lao thường ở cổ, bẹn (háng) thành khối hạch, không nóng đau, khi vỡ hay loét ra chất bã đậu, khó lành miệng vết thương.
+ Huyền ẩm : mạn sườn đau, khó thở, thường gặp trong chứng tràn dịch màng phổi (phổi nước).
+ Yêm ẩm : Yêm là tràn, do đó, người thường thấy nặng nề, phù tay chân, không có mồ hôi, sợ lạnh... hen suyễn, mặt phù...
2. Ứ huyết
Là sự vận hành khí huyết không thông, xung huyết hoặc xuất huyết cục bộ.
Thường do khí hư, khí trệ khiến cho huyết ngưng trệ hoặc xuất huyết trong cơ thể.
- Những biểu hiện của ứ huyết :
+ Đau : Nội Kinh : "Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông" (Lưu thông thì không đau, đau là do không thông), đau ở đây thường do xung huyết gây chèn ép, thường đau cố định 1 chỗ, ấn cũng như thấy đau hơn.
+ Sưng : thành khối, hay gặp trong ngoại khoa là gẫy xương, ngã, bong gân... hoặc ứ huyết ở các tạng phủ.
+ Xuất huyết nội : như đại tiện ra máu, rong huyết... hoặc xuất huyết dưới da như trong trường hợp sốt xuất huyết, ngộ độc...
3. Ăn uống
- Số lượng thức ăn : ăn nhiều quá gây bội thực. Ăn ít quá không đủ năng lượng cho cơ thể, gây mỏi mệt...
- Chất lượng thức ăn : Thức ăn không cung cấp đủ lượng sinh tố cần thiết cho cơ thể, gây suy dinh dưỡng... Những thức ăn mốc, kém phẩm chất gây ngộ độc, ung thư... Thức ăn chế biến không đúng quy cách, thí dụ : luộc rau quá nhừ làm mất sinh tố, chiên xào với quá nhiều mỡ dễ gây ra chứng xơ mỡ động mạch. Rán nướng quá cháy dễ gây ung thư...
Ngoài ra cần để ý đến những yếu tố gây bệnh đối với từng tạng phủ : Thức ăn lạnh quá, làm Tỳ vị hư hàn, thận suy yếu. Thức ăn cay, nóng gây táo bón...
6. Sang chấn, trùng thú cắn
Có những loại do té ngã, bị đâm chém, chấn thương do té ngã, do bị súc vật cắn...
TÓM LẠI
3 loại nguyên nhân trên có liên hệ mật thiết với nhau. Nguyên nhân bên ngoài khó xâm nhập cũng như cơ thể nếu cơ thể khỏe mạnh. Nguyên nhân bên trong cũng phát sinh hoặc phát triển nặng hơn nhờ sự hỗ trợ của các nguyên nhân khác. 
Share:

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

LIỆT DƯƠNG


Đại Cương

Liệt dương là bệnh của nam glới biểu hiện dương vật không cương hoặc cương yếu. Trong Y văn cổ có sách ghi 'Dương nuy’, ‘Âm nuy’, ‘Dương Vật Bất Cử’.
Theo y học hiện đại, Liệt dương có thể phân làm hai loại: Nguyên phát cũng như thứ phát. Nguyên phát là từ khi lớn lên chưa hề có dương vật cương cũng như phóng tinh do suy sinh dục từ tuổi dậy thì. Liệt dương thể thứ phát có thể phân làm loại do tổn thương thực thể cũng như loại do rối loạn chức năng.
Loại do tổn thương thực thể thường là thứ phát của các bệnh tim, phổi, thận, não, do các bệnh nội tiết như bệnb cường giáp, bệnh của tuyến thuỳ, tuyến thượng thận, bệnh của tinh hoàn, tiểu đường, do các bệnh viêm nhiễm như viêm tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo. Bệnh có thể do nhiễm mỡ xơ mạch của phân nhánh hố chậu của động mạch chủ.
Đặc điểm lâm sàng của liệt dương do tổn thương thực thể là bệnh nặng dần, không có hiện tương cương dương vật cũng như lúc sáng sớm hoặc cương bất kỳ.
Loại do rối loạn chức năng thường do yếu tố tâm thần (mà y học cồ truyền gọi là nguyên nhân “thất tình” như tình cảm lạnh nhạt, buồn phiền, kinh sợ, lo lắng hoặc không tha thiết về tình dục).
Đặc điểm của loại bệnh này là sáng dậy dương vật có cương hoặc cương bất kỳ, lúc cương, lúc không, có thể trị khỏi bằng ám thị, tâm lý liệu pháp, thuốc nam, châm cứu.

Nguyên Nhân

Nguyên nhân gây nên liệt dương có nhiều, cơ sở bệnh lý theo y học cổ truyền có thể qui nạp chủ yếu: Thận hư, thấp nhiệt, khí trệ, huyết ứ.
Thận hư bao gồm khí huyết bất túc, nặng thì mệnh môn hoả suy.
Thấp nhiệt thường do ăn nhiều chất béo ngọt hoặc nghiện rượu sinh thấp, sinh nhiệt hoặc do bệnh nhiễm.
Khí trệ do tình chí thất thường làm cho can khí bị uất kết. Can tàng huyết, chủ cân mạch, mạch lạc không thông, dương vật thiếu nuôi dưỡng sinh ra chứng liệt dương.
Khí trệ cũng như huyết ứ thường có quan hệ nhân quả, tác động lẫn nhau.

Biện Chứng

Thường luận trị theo các thể bệnh thường gặp sau:
1- Thận Hư: Mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, sắc mặt xạm đen, hoa mắt, ù tai, boạt tinh hoặc xuất tinh sớm (tảo tinh, tiết tinh), lưỡi sắc nhợt, mạch Trầm Tế hoặc Trầm Nhược, vô lực.
Điều trị: Ích thận, cố tinh, bổ khí huyết. Dùng bài Tả Quy Hoàn gia giảm (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Câu kỷ tử 160g, Quy bản giao 160g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giác giao 160g, Sơn dược 160g, Thục địa 320g, Ngưu tất 120g, Sơn thù 120g.
2. Khí Trệ Huyết Ứ: Tinh thần bứt rứt, ngực sườn đầy tức, tính tình nóng nảy, sắc mặt xạm, môi tím, lưỡi có điểm ứ huyết sắc tím, mạch Huyền hoặc Sáp.
Điều trị: Hành khí hoạt huyết hoá ứ, dưỡng can thận. Dùng bài Huyết Phủ Trục Ứ Thang Gia Giảm (Y Lâm Cải Thác): Sài hồ, Cam thảo đều 4g, Cát cánh, Xuyên khung đều 6g, Chỉ xác 8g, Đào nhân 16g, Đương quy, Hồng hoa, Ngưu tất, Sinh địa đều 12g.
3. Thấp Nhiệt: Bụng dưới đau âm ỉ, nước tiểu cũng nhưng, hoặc âm nang (bìu đái) lở ngứa, lưỡi đỏ, rêu cũng nhưng dày nhớt, mạch Trầm Sác. Thể này ít gặp, phần lớn đến khám có hiện tượng viêm nhiễm.
Điều trị: Thanh lợi thấp nhiệt, bổ ích can thận. Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết): Đơn bì 120g, Sơn dược 160g, Trạch tả 120g, Hoàng bá 80g, Sơn thù 160g, Tri mẫu 80g, Thục địa 320g, Phục linh 120g.

CHÂM CỨU

1- Châm Cứu Học Thượng Hải: Ôn bổ Mệnh Môn.
Dùng Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Lãi Câu (C.5).
. Tâm Tỳ suy: thêm Thần Môn (Tm.7).
. Mệnh Môn Hoả suy: thêm Mệnh Môn (Đc.4)
Ý nghĩa: Lãi Câu là huyệt Lạc của kinh Túc Quyết Âm, mạch của nó kết ở dương vật; Mệnh Môn thuộc mạch Đốc là chỗ ở của Mệnh Môn (Kỳ Phủ Mệnh Môn Chi Hoả), hợp với Quan Nguyên để làm tăng nguyên dương; Thần Môn là huyệt Nguyên của kinh Tâm, phối Tam Âm Giao để điều tiết Tâm Tỳ.
2- Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Khí Hải + Tam Âm Giao (Ty.6) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Đại Lăng (Tb.7) (Châm Cứu Đại Thành).
3- Cứu Mệnh Môn (Đc.4) + Thận Du (Bq.23) + Khí Hải (Nh.6) (Loại Kinh Đồ Dực).
4- Mệnh Môn (Đc.4) + Thận Du (Bq.23) + Khí Hải (Nh.6) + Nhiên Cốc (Th.2) + Dương Cốc (Ttr.5) [đều cứu] (Thần Cứu Kinh Luân).
5- Thận Du (Bq.23) + Khí Hải (Nh.6) (Châm Cứu Phùng Nguyên).

Share:

Chữa chứng đầy bụng khó tiêu bằng xoa bóp, bấm huyệt


Đầy bụng khó tiêu là hiện tượng cảm thấy no hơi, nặng bụng, chướng bụng, có khi buồn nôn cũng như nôn. Chứng này có thể chỉ là một rối loạn chức năng khi mà bệnh nhân khám cũng như  xét nghiệm không phát hiện ra điều gì bất thường hoặc là hiện tượng của 1 bệnh thực thể về tiêu hoá. Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh là do ăn uống không điều độ, ăn nhiều thức ăn chua cay; do lạm dụng một số chất kích thíchnhư rượu, cà phê, thuốc lá; do căng thẳng thần kinh, bị stress.
Trong YHCT, biểu hiện của chứng bệnh này thuộc các chứng “bĩ mãn” , “vị quản thống” . Nguyên nhân phần lớn là do tỳ vị vận hóa không tốt làm cho ăn uống kém, khó tiêu, hoặc tình trí bị kích thích, can khí uất trệ khắc tỳ gây tổn thương chức năng tỳ vị.
Ngày nay ngày càng nhiều bệnh nhân trẻ bị chứng bệnh này do lối sống không điều độ, ăn uống thất thường hoặc do áp lực trong công việc.
Trẻ em cũng hay bị đầy bụng, khó tiêu kèm theo các biểu hiện: khó chịu, khóc, lười ăn, bỏ ăn, bụng chướng hơi, buồn nôn hoặc nôn, đi ngoài phân lỏng.
Xoa bóp bấm huyệt có giúp tốt đối với chứng bệnh này do có khả năng làm tăng cường nhu động của dạ dày, ruột cũng như cải thiện chức năng tiêu hóa; khi chức năng tiết dịch tiêu hóa kém, dùng kích thích mạnh để tăng tiết dịch. Khi chức năng tiết dịch tiêu hóa quá mạnh, dùng kích thích vừa cũng như nhẹ để giảm tiết dịch.
Trong thai kỳ có nhiều thay đổi về hoạt động của các tuyến nội tiết ở người phụ nữ cũng như sự phát triển của thai trong bụng gây chèn ép cũng như cơ quan tiêu hóa gây đầy bụng, khó tiêu, ợ nóng, nôn ợ. Đối với những thai phụ này, xoa bóp bấm huyệt là một lựa chọn đúng đắn, cải thiện được các hiện tượng nêu trên.
Cách tiến hành:
-         Xoa vùng bụng:
+ Các huyệt: trung quản (giữa đường nối từ mũi kiếm xương ức đến rốn), quan nguyên (dưới rốn 3 thốn, trên bờ xương mu 2 thốn), khí hải (từ rốn thẳng xuống 1, 5 thốn), thiên khu(từ rốn đo ngang ra 2 thốn)
+ Thủ thuật: miết, ấn, phân, xoa
+ Thao tác: 1. Người bệnh nằm ngửa, miết từ trung quản đến rốn; 2. Xoa bụng: một tay nắm lại, tay kia úp lên trên để tăng áp lực, xoa vòng quanh rốn theochiều kim đồng hồ 10 - 15lần , ngược lại cũng từ 10 - 15 lần, 3. Day các huyệt: trung quản, quan nguyên, khí hải, thiên khu, 4. Phân xoa bụng.
-         Ngồi xếp bằng tròn bấm các huyệt có giúp toàn thân: hợp cốc (huyệt ở chỗ lõm giữa ngón cái cũng như ngón trỏ, đặt đốt 2 ngón cái bàn tay bên đối diện lên hố khẩu bàn tay bên này, đầu ngón cái ở đâu thì huyệt nằm tương ứng tại chỗ đó)(đối với phụ nữ có thai không dùng huyệt này), túc tam lý (dưới mắt gối ngoài  3 thốn, cách lồi củ trước xương chày 1 khoát ngón tay, công tôn(ở chỗ lõm bờ dưới trước đáy xương bàn chân thứ nhất, nơi tiếp giáp mu bàn chân cũng như gan bàn chân). Bấm mỗi huyệt từ 30 giây đến 1 phút
-         Liệu trình xoa bóp: tiến hành hàng ngày từ 1 đến 2 lần cũng như buổi sáng hoặc buổi tối.
Đầy bụng khó tiêu do ăn uống tác động nhiều, để phòng chứng bệnh này chúng ta cần chú ý đến chế độ sinh hoạt ăn  uống như  ăn ngủ có giờ giấc, tránh các yếu tố gây kích thích như stress, uống rượu, hút thuốc. Khi ăn nên nhai chậm, nhai kỹ cũng như ăn vừa đủ no, không nên ăn quá no. Hạn chế dùng các loại nước ngọt có gas hay nhữngthức ăn chua cay nhiều hoặc có nhiều dầu mỡ; nên ăn nhiều chất xơ (có nhiều trong rau cũng như hoa quả) giúp hỗ trợ tiêu hoá. Gừng cũng là một thức ăn rất tốt đối với chứng bệnh này, có thể dùng ở dạng tươi hoặc bột khô. Tập thể dục đều đặn có thể làm tăng cường sức khỏe, lưu thông khí huyết, cải thiện chức năng tiêu hóa.
Huyệt túc tam lý(dưới mắt gối ngoài  3 thốn, cách lồi củ trước xương chày 1 khoát ngón tay, khi úp lòng bàn tay cũng như giữa đầu gối, đầu ngón tay giữa chạm cũng như xương ống chân, từ đó hơi xịch ra phía ngoài 1 ít là huyệt) có giúp: ích khí kiện tỳ, điều trung khí, hóa thấp trừ đàm, thông kinh hoạt lạc, hành khí hoạt huyết, tăng cường miễn dịch. Châm cứu bấm huyệt ở huyệt này có thể điều trị: đau dạ dày, nôn mửa, tiêu hóa kém, táo bón, ruột viêm, chi dưới yếu liệt, bệnh thuộc hệ tiêu hóa, kích ngất, cơ thể suy nhược, thần kinh suy nhược. Hàng ngày day cũng như huyệt này 1-3 phút có giúp kích thích tiêu hóa, ăn ngon, đặc biệt đối với trẻ em cũng như người có tuổi.
Đối với những người mắc chứng bệnh này, sau khi áp dụng các biện pháp về chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, tự xoa bóp bấm huyệt như đã nêu ở trên mà chưa có dấu hiệu cải thiện thì nên đi khám thêm bác sĩ để xác định có bệnh khác kèm theo hay không
Share:

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Tứ chẩn


Tứ chẩn
I/ VỌNG CHẨN (nhìn)
          Nhìn để quan sát thần, sắc, hình thái, mặt, mũi, môi, lưỡi,…. Của người bệnh để biết được tình hình bệnh tật bên trong cơ phản ánh ra bên ngoài. Đông y rất chú trọng xem các bộ phận ở mặt cũng như lưỡi vì có lien quan nhiều đến bệnh tật tại cq tạng phủ bên trong.
1. Vọng thần (xem thần).
          Thần sự hđộng về tinh thần cũng như ý thức, là nơi thể hiện ra bên ngoài sự hoạt động của các tạng phủ bên trong cơ thể. Khi xem thần cần xác định:
- Còn thần: thì mắt sáng, tỉnh táo nên bệnh nhẹ, chính khí chưa bị tổn thương nhiều, công năng của caccs tạng phủ chưa bị suy yếu, tiên lượng bệnh còn tốt.
- Mất thần: không có thần thể hiện tinh thần mệt mỏi, thờ ơ lãnh đạm, nói không có sức (hoặc biểu hiện của các tr/ chứng trong hôn mê )… là bệnh nặng chính khí đã suy yếu, khi điều trị bệnh rất khó khăn cũng như lâu dài, tiên lượng dè dặt.
* Chú ý có một số bệnh nhân mãn tính bệnh lâu ngày, cơ thể quá suy yếu, nhưng đột nhiên tinh thần tỉnh táo, muốn ăn uống, gò má đỏ, thích nói…. Đó là biểu hiện của một tình trạng bệnh tiến triển xấu đi, trong YHCT cho đó là hiện tượng “hồi quang chếu nghịch hay phản quang), chính khí muốn thoát. Vì thông thường bệnh nặng mãn tính khi phục hồi phải phục hồi từ từ đây mới đúng quy luật sinh lý bình thương trong bệnh tật, nên khi có hiện tượng phục hồi nhanh là dấy hiệu khác thường ( bệnh lý) nên tiên lượng thường xấu. Ngoài ra chúng ta phải quan sát tổng thể của bệnh tật để có kết luận chính xác. Cần quan sát thêm tình trạng tinh thấn như u uất, nói cười huyên thuyên, chán ăn, hoang tưởng, mê sảng hay lơ mơ ý thức, hôn mê… để có chẩn đoán bệnh thuộc về tạng nào trong cơ thể ( tâm, can, tỳ,…)
2. Vọng sắc
          Thường xem sắc ở mặt, người BT sắc mặt tươi nhuận, khi có bệnh thường có thể biến đổi như sau:
a/ sắc đỏ: do nhiệt, cần phân biệt sắc đỏ do thực nhiệt hay hư nhiệt:
          + Thực nhiệt: thì toàn mặt đỏ đều như trong bệnh sốt nhiễm trùng, say nắng..
          + Hư nhiệt: thường hai gò má đỏ, sốt về chiều, gặp trong bệnh mãn tính lâu ngày, trong các bệnh lao (lao phổi…) do âm hư sinh  nội nhiệt
b/ Sắc cũng nhưng: do hư, do thấp. Nguyên do tại tỳ mất chức năng kiện vận, vậy thủy thấp không được vận hóa, khí huyết giảm sút, da không được nuôi dưỡng vậy mà có tr/ chứng da màu cũng nhưng. Chứng cũng nhưng da (hoàng đản) được chia ra:
          + Hoàng đản mà sắc tươi sáng là do thấp nhiệt (hoàng đản nhiễm trùng)
          + Hoàng đản mà sắc cũng nhưng ám tối là do hàn thấp (hoàng đản do ứ mật, tan huyết)
          + Sắc mặt hơi cũng nhưng do tỳ hư
c/ sắc trắng: do hư, do hàn, do mất máu
- Sắc cũng nhưng hơi phù là thận dương hư. Bệnh cấp tính đột nhiên sắc mặt trắng bệch là dương khí sắp thoát ( choáng…….). Đau bụng  mà sắc  mặt trắng  do hàn nhiều ( bệnh cấp cứu ngoại khoa như thủng dạ dầy, viêm ruột thừa, túi mật, viêm tụy cấp..)
d/ Sắc đen: do hàn, do đau, do thủy, do thận hư
- Dương khí hư gây chứng hàn, hàn ứ không thông gây chứng đau. Thủy thấp không vận hóa được. thận hư tinh khí suy kiệt, đều gây sắc mặt đen
e/ Sắc xanh: do hàn, do đau, do ứ huyết, do kinh phong
- Sắc xanh do khí huyết không thông, kinh mạch bị trở trệ mà thành. Hàn gây khí huyết không thông, không thông thì gây đau cũng như huyết ứ. Phong hàn gây đau đầu, lý hàn gây đau bụng, đau nhiều sắc mặt trắng bệch mà xanh, môi miêng xanh tím là huyết ứ ( suy tim), trẻ em sốt cao, sắc mặt xanh là sắp có kinh phong ( co giật)
3. Vọng hình thái ( hình dáng, tư thế, cử động).
- Xem hình thái để biết được tình trạng khỏe hay yếu của 5 tạng:
          + Da lông khô là phế hư
          + Cơ nhục gầy, nhẽo là tỳ hư
          + Xương yếu, răng lung lay chậm biết đi, liền thóp, chậm mọc tóc là thận hư
          + Chân tay run, co quắp là can hư
          + Tinh thần mệt mỏi.. là tâm hư
Người béo ăn ít, thở gấp là tỳ hư đàm thấp. người gầy mau đói là vị hỏa
- Xem tư thể cử động của bệnh nhân để biết bệnh thuộc âm hay dương ( kích động, hay nói, nằm quay ra ngoài…)
4. Vọng mũi (xem mũi)
- Đầu mũi xanh có đau bụng
- Đầu mũi hơi đen trong ngực có đàm ẩm
- Đầu mũi sắc trắng là trong cơ thể khí hư hoặc các trường hợp mất máu
- Đầu mũi màu cũng nhưng cơ thể có chứng thấp
- Đầu mũi sắc đỏ thuộc phế nhiệt
- Cánh mũi phập phồng do phế nhiệt (gặp trong viêm phổi, phế quản, hen xuyễn
- Chảy nước mũi do ngoại cảm phong hàn; nước mũi đục do ngoại cảm phong nhiệt
5. Vọng mục (xem mắt)
 Lòng trắng:
- Đỏ bệnh ở tâm
- Trắng bệnh ở phế
- Xanh bệnh ở can
- cũng nhưng bệnh ở tỳ
- Đen bệnh ở thận
Mắt:
- Đỏ sưng đau do can hỏa phong nhiệt
- Mi mắt (n/mạc) nhạt màu do thiếu máu
- Mắt quầng thâm do tỳ hư
- Đỏ khóe mắt do tâm hỏa
6. Vọng môi
- Môi:
- Đỏ hồng khô là nhiệt
- Trắng nhợt là huyết hư
- Xanh tím là ứ huyết
- Hồng tưới là do âm hư hỏa vượng
- Xanh đen do hàn
- Lở loét do vị nhiệt
7. Vọng da
- Da phù thũng: ấn cũng như vết lõm còn là thủy thấp; ấn cũng như vết lõm nổi nhanh là do khí trệ
- cũng nhưng da: có sốt kèm sắc da cũng nhưng tươi sang là dương hoàng; không sốt sắc da cũng nhưng tối là âm hoàng
- Ban chẩn: ban là đám nhỏ nổi trên mặt da, chẩn là những mụn nổi cao trên mặt da.
          + Ban chẩn tươi nhuận là chính khí chưa hư
          + Ban chẩn tím là nhiệt thịnh
          + Ban chẩn nhạt xám là chính khí đã hư
8. Vọng lưỡi
- Xem lưỡi để biết được tình trạng hư thực của tạng phủ, khí huyết, tân dịch trong con người, cùng với sự nông sâu diễn biến nặng nhẹ của bệnh tật.
- Xem lưỡi chính tại 2 bộ phận rêu lưỡi cũng như chất lưỡi; chất lưỡi là tổ chức cơ, mạch của lưỡi, rêu lưỡi là chất phủ trên bề mặt của lưỡi.
- Lưỡi người bình thường: chất lưỡi mềm mại linh hoạt, hoạt động tự nhiên, màu hơi hồng, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc ít rêu, không khô, ướt vừa phải.
- Khi có bệnh: chất lưỡi thay đổi về màu sắc, hình dáng cũng như cử động thông qua đó phản ánh tình trạng hư thực của tạng phủ, thịnh suy của khí huyết; rêu lưỡi thay đổ về màu sắc cũng như tính chất thông qua đó phản ánh vị trí nông sâu, tính chất của bệnh tật cũng như sự tiêu trưởng của chính khí cũng như tà khí
a/ Xem chất lưỡi.
- Xem màu sắc:
          + Màu nhạt: nếu hơi trắng thuộc hàn chứng, hư chứng, dương khí suy kém, khí huyết không đầu đủ
          + Màu đỏ: Thuộc nhiệt chứng, có thể do lý thực nhiệt hoặc do hư nhiệt ( âm hư hỏa vượng)
          + Màu đỏ giáng: Do nhiệt thịnh, tà nhiệt đã cũng như phần dinh cũng như huyết; đối với bệnh nhân mãn tính do âm hư hỏa vượng, tân dịch bị hao tổn giảm sút nhiều.
          + Màu xanh tím: bệnh do hàn cũng như nhiệt, có những tr/ chứng kèm theo khác nhau: do nhiệt chất lưỡi xanh tím nhiều, lưỡi khô ít tân dịch; do hàn cũng như ứ huyết chất lưỡi xanh tím, ướt cũng như nhuận, nêu ứ huyết kèm theo các nốt ban điểm ứ huyết
- Xem hình dáng của lưỡi:
          + Phù nề: thuộc thực chứng cũng như nhiệt chứng; hơi nề hai bên có hằn răng thuộc hư chứng, hư hàn hoặc do đàm thấp kết lại tràn lên.
          + Sưng to: Màu trắng nhạt cũng như sưng to do tỳ thận dương hư; chất lưỡi hồng đỏ cũng như sưng to do thấp nhiệt bên trong hay nhiệt độc mạnh
          + Mọng  nhỏ: chất lưỡi đạm (nhạt) nhỏ do tâm tỳ hư, khí huyết hư; chất lưỡi hồng giáng mọng nhỏ do âm hư nhiệt thịnh, tâm dịch hao tổn, dấu hiệu của bệnh nặng
          + Phì đại: đầu lưỡi phì đại thuộc tâm hỏa thịnh; hai bên phì đại thuộc can đởm hỏa thịnh; giữa lưỡi phì đại là trường vị nhiệt thịnh
- Xem cử động của lưỡi:
          + Mềm yếu, không cử động tự do: bệnh cũ lâu ngày chất lưỡi đạm nhạt mà liệt là khí huyết đều hư; lưỡi đỏ giáng mà liệt do âm hư cực độ; Bệnh mới mắc lưỡi khô hồng mà liệt là do nhiệt tổn thương đến phần âm
          + Cứng không cử động co ra cũng như được:  gặp trong các trường hợp hôn mê do các nguyên nhân, theo YHCT thì nguyên do bệnh nhiệt, nhiệt nhập tâm bào (bệnh  truyền nhiễm sốt cao, bệnh trúng phong,
          + Lưỡi lệch: do trúng phong
          + Lưỡi run: do tâm, tỳ, khí, huyết hư nhược
          + Lưỡi rụt ngắn: là tr/ chứng bệnh nguy hiểm, nếu lưỡi rút nhưng nhuận là do hàn ngưng trệ ở cân mạch, nêu lưỡi phù to mà ngắn do đàm thấp, nếu lưỡi hồng khô là do sốt cao tổn thương tân dịch
          + Lưỡi thè: lưỡi thè ra ngoài la do tâm tỳ có nhiệt, hoặc trong các bệnh bẩm sinh chậm phát dục ( não úng thủy, chứng đần độn) trẻ em.
b/ Xem rêu lưỡi.
- Xem mầu sắc rêu:
          + Rêu trắng:
          + Rêu cũng nhưng
          + Rêu xám đen
- Xem tính chất của rêu lưỡi:
          + Rêu hày hay mỏng
          + Rêu khô hay ướt
          + Rêu dinh cũng như hôi
9. Vọng cử động tứ chi

II/ VĂN CHẨN (nghe cũng như ngửi)
1. Nghe âm thanh.
a/ Tiếng nói:
+ Tiếng nói nhỏ, thểu thào không ra hơi thuộc hư chứng
+ Tiếng nói sang sảng thuộc thực chứng
+ Mê sảng nói nhiều thuộc thục nhiệt
+ Nói ngọng do phong đàm, trúng phong
+ Nói một mình (độc thoại) thuộc tâm thần hư
b/ Tiếng thở:
          + Thở to là thực chứng gặp trong các bệnh cấp tính ( nhiêm khuẩn đường hô hấp gđ đầu ….)
          + Thở nhỏ ngắn, gấp, nông là hư chứng gặp trong các bệnh mãn tính, NK nặng suy hô hấp….
c/ Tiếng ho: ho có đờm là thấu; ho không đờm là khái; ho khan bệnh nội thương thuộc phế âm hư. Bệnh cấp tính mà khản tiếng do phế thực nhiệt, ho lâu ngày mà khản tiếng là phế âm hư. Ho hắt hơi sổ mũi do cảm mạo phong hàn; ho từng cơn kèm nôn là ho gà.
d/Tiếng nấc:  Nấc lien tục tiếng to cũng như có sức là do thực nhiệt, nấc yếu đứt quãng là do hư hàn. Nấc do vị nghịch lên nguyên nhân do ăn uống, cảm mạo phong hàn tự nhiên bệnh cũng tự khỏi. Đối với những bệnh nhân lâu ngày vị khí yếu, thấy tr/ chứng nấc cần chú trọng theo dõi sát vị đó có thể là một dấu hiệu tiến triển xấu của bệnh tật ( kích thích RLTK giao cảm), YHCT cho vị khí rối loạn muốn tuyệt
2. Ngửi mùi vị: ngử mùi vị của hơi thở của mũi mồm cũng như các chất thải ra như đờm, phân, nước tiểu để người thấy thuốc có thể phân biệt được tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh.
- Phân tanh, hôi, loãng do tỳ hư
- Nước tiểu khai đục do thấp nhiệt
- Đại tiện phân chua, thối do tích nhiệt thực tích
- Đại tiện phân khăm thối do tỳ hư, huyết nhiệt…

III/  VẤN CHẨN (hỏi bệnh)
          Hỏi người bệnh hoặc người nhà về các chứng trạng hiện tại, quá trình xuất hiện bệnh, điều trị bệnh, hỏi nghề nghiệp, hoàn cảnh bệnh nhân….
1.     Hỏi hàn nhiệt
2.     Hỏi mồ hôi
3.     Hỏi các bộ phận cơ thể lq như đầu, mình, ngực, bụng, các xương khớp.
4.     Hỏi ăn uống cũng như khẩu vị
5.     Hỏi giấc ngủ
6.     Hỏi đại tiểu tiện
7.     Hỏi kinh nguyệt, khí hư cũng như thai sản
 IV/  THIẾT CHẨN (xem mạch cũng như sờ nắn)
1. Xem mạch
1.1. Mục đích: Là để biết được tình trạng thịnh suy của tạng phủ, vị trí nông sâu cũng như tính chất hàn nhiệt của bệnh tật
1.2. Vị trí, nơi xem mạch: Tại ĐM quay ở cổ tay tại vị trí thốn khẩn, ĐM đùi, ĐM chày sau, ĐM mu chân, ĐM thái dương nông. Hay dung nhất là ĐM quay
          Tại thốn khẩu nơi ĐM quay đi qua, là vị trí GP để xem mạch được chia thành 3 bộ là bộ thốn, bộ quan, bộ xích. Bộ quan tương ứng với vị trí GP mỏm châm trụ kéo ngang ra, tiếp đó vị trí bộ thốn ở dưới cũng như bộ xích ở trên bộ quan tính theo thứ tự từ khủy tay đến cổ tay. Tay phải thuộc khí cũng như tay trái thuộc huyết
Bộ
Tay trái (thuộc huyết)
Tay phải (thuộc khí)
Thốn
Tâm – tiểu trường
Phế - đại trường
Quan
Can – đởm
Tỳ - vị
Xích
Thận âm – bàng quang
Thận dương – tam tiêu
                   Bảng diễn giải vị trí tạng phủ tương quan các bộ mạch
1.3. Cách xem mạch: 
- Chuẩn bị: ( nên xem cũng như buổi sang, lúc chưa ăn gì là tốt nhất)
          + Cho người bệnh nghỉ ngơi 15’ trước khi xem mạch, có thể nằm hoặc ngồi nghỉ
          + Thầy thuốc: rửa tay xạch, lau khô hoặc làm ấm bàn tay trước khi xem mạch, tác phong đàng hoàng, nghiêm túc
- Tư thế:
+ Người bệnh để bàn tay ngửa cũng như thoải mái nhất.
+ Người thấy thuốc ngồi đối diện bệnh nhân. Tư thể thỏa mái nhưng phải nghiêm túc, đúng tác phong   
- Phương pháp & cách tiến hành:
+ Thầy thuốc dùng 3 ngón tay: ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn đặt cũng như vị trí mạch tại thốn khẩu ( đường đi của ĐM quay), ngón giữa của thầy thuốc tương ứng với bộ quan, ngón trỏ tương ứng bộ thốn, ngón nhẫn tương ứng với bộ xích. Tùy theo hình dáng người bệnh cao hay thấp, nhỏ hay lớn mà tay thầy thuốc đặt thưa hay khít lại. Tay phải của người thầy thuốc xem tay trái của người bệnh cũng như ngược lại tay trái thầy thuốc xem tay phải người bệnh.
+ 3 mức độ ấn mạch: Thượng án là ấn nhẹ mà thấy mạch đập, dạng mạch tiêu biểu là mạch phù; Trung án là ấn vừa phải thấy mạch đập, ấn sâu sát xương mới thấy mạch đập là hạ án
+ 2 cách xem (tổng khản cũng như đơn khản): Xem chung cả 3 bộ gọi là tổng khán để nhận định tình hình chung, đây là cách thồng thường hay sử dụng nhất. Xem từng bộ vị gọi là đơn khán hay vi khan, để đánh giá tình hình chi tiết từng tạng phủ. Trong khám bệnh thường kết hợp cả hai cách xem, trước là tổng khán sau là đơn khan.
1.4. Các hiện tượng(dạng) về mạch
a/ Mạch bình thường:
- Là mạch đập ở cả 3 bộ, mạch đi không phù không trầm, mạch đi hòa hoãn, điều hòa có lực. Tần số người lớn 70 – 80ck / phút, trẻ em nhịp mạch theo tháng tuổi, thường 120 – 140 CK/ phút, 6 tuổi 90 – 110ck/ phút, Thể tạng, giới, tuổi, tinh thần cũng có lq đến dạng mạch:
+ Thanh niên mạch đập hữu lực, người già cũng như người yếu mạch đập yếu hơn, mạch phụ nữ yếu hơn mạch nam giới. người cao mạch dài hơn người thấp lùn, người gầy mạch hơi phù, người béo mạch hơi trầm.
+ Thời tiết khí hậu cũng có tác động đếm dạng mạch: mùa xuân mạch đi hơi huyền; mùa hạ mạch hơi hồng; mùa thu mạch hơi phù; mùa đông mạch hơi trầm.
- Người xưa nói mạch bình thường là mạch có vị khí, có thần cũng như có gốc:
+ “vị khí là gốc của con người”, nên mạch có vị khí là mạch hòa hoãn, điều hòa, là mach thuận (mạch sinh lý), không có vị khí là mạch nghịch (mạch bệnh lý), dấu hiệu này dung để đánh giá tình trạng cũng như tiên lượng bệnh.
+ Mạch có thần là mạch có lực
+ Mạch có gốc: thận khí là gốc của con người, mạch xích là gốc của mạch, nên mạch xích là nơi biểu hiện của thận khí gốc của con người, vậy mạch BT là mạch xích hữu lực. nên khi có bệnh hai mạch quan thốn mất, nhưng mạch xích còn thì tiên lượng bệnh còn tốt chưa nguy hiểm.
b/ Mạch khi có bệnh:
          Khi có bệnh thì mạch có thể thay đổi về vị trí nông sâu, về tốc độ nhanh chậm, về cường độ có lực hay không có lực, có quy luật hay không có quy luận (nhịp mạch đều hay không), có dạng mạch kết hợp nhiều tính chất mạch ở  trên gọi là khiêm mạch.  Có sách ghi 28 loại mạch. Tài liệu này ghi 19 loại mạch:
* Theo vị trí nông sâu của mạch
1. Mạch phù: là mạch sờ nhẹ tay thấy mạch, ấn xuống hơi giảm nhưng không rỗng mạch.
- Chủ bệnh: Tại biểu
- Dạng mạch:+ Phù hữu lực là biểu thực; phù sác là biểu nhiệt
                    + Phù vô lực là hư chứng, nguyên do âm hư ( hư dương phù ra ngoài)
2. Mạch trầm: ấn mạnh tay thấy mạch đập (mạch đập xát xương).
- Chủ bệnh: bệnh thuộc lý
- Dạng mạch: + Trầm hữu lực là lý thực
                      + Trầm vô lực là lý hư
* Theo tốc độ của mạch
3. Mạch sác: là mạch đập nhanh 80 - 90 lần/phút là mạch đới sác; trên 90 lần / phút là mạch sác
- Chủ bệnh thuộc về nhiệt, mạch sác hữu lực là thực nhiệt, sác vô lực là hư nhiệt, phù sác là biểu nhiệt, trầm sác là lý nhiệt
4. Mạch trì là mạch đập chậm dưới 60 lần/ phút
- chủ bệnh: chứng hàn: mạch trì hữu lực là thực chứng do bị lạnh; Mạch trì vô lực thuộc chứng lý hàn (dương hư).
* Theo cường độ của mạch
5. Mạch hư: là cả ba bộ mạch không cơ lực, ấn thấy rỗng mạch
- chủ bệnh thuộc chứng hư do khí huyết hư
6. Mạch thực: Cả ba bộ mạch đều có lực, gọi là mạch hữu lực
- Chủ bệnh: thực chứng, do tà khí thịnh nhưng chính khí chưa suy
7. Mạch hoạt: Mạch đi lại lưu lợi, trơn như hòn bi lăn trong đĩa
- Chủ bệnh có đàm, thục trệ cũng như thực nhiệt (tà khisungr trệ).
- Phụ nữ mang thai mạch cũng hoạt nhưng thường là hoạt động cũng như sác
8. Mạch sáp: Mạch đi khó khăn, không lưu lợi, cảm giác như sáp sít.
- Chủ bệnh tinh hao, huyết kiệt, thiếu máu, khí trệ huyết hư (không nhu nhuận kinh mạch)
9. Mạch hồng: mạch đi cuồn cuộn như song, đến mạnh mà đi nhẹ
- Chủ bệnh: chủ các bệnh thuộc nhiệt thịnh, mạch hồng còn có thể thấy trong các trường hợp do nhiệt làm mất nước gây âm hư cũng như dương vượt ra ngoài
10. Mạch đại (mạch to)
- Chủ bệnh:
          + Mạch đại có lực là tà khí thịnh
          + Mạch đại không có lực là hỏa bốc mà gây âm hư, nên hư dương bốc ra ngoài. Cần phân biệt một dạng mạch đại nữa thuộc các mạch không có quy luật
11. Mạch tế: hay còn gọi là mạch tiểu, là loại mạch nhỏ nhưng còn bắt được
- Chủ bệnh: do âm hư cũng như huyết hư là chính cũng có thể do thấp tà sinh ra
12. Mạch vi: Là mạch rất nhỏ vaf rất yếu khó bắt, có lúc không thấy khó đếm mạch
- Chủ bệnh âm dương khí huyết đều hư; chứng thoát dương ( trụy mạch choáng)
* Theo biên độ mạch
13. Mạch nhu: là mạch đi phù nhỏ cũng như mềm
- Chủ bệnh thuộc chứng hư (khí huyết – âm , dương, thân hư, tinh khô huyết kiệt)
14. Mạch huyền: Mạch đi ngay thẳng mà dài, căng như sợi dây đàn
- Chủ bệnh thuộc can đởm, bệnh sốt rét,  chứng đau đớn, chứng đàm ẩm
+ Huyền sác là thực nhiệt; huyền trì là hàn chứng; huyền hoạt là đàm ẩm; huyền khẩm là các chứng đau do ứ huyết..
15. Mạch khẩn: Mạch đi khẩn trương có lực cũng như giống như dây thừng vặn xoắn
- Chủ bệnh: chứng hàn, chứng đau đớn, ứ đọng đồ ăn
16. Mạch khâu: Mạch phù nhưng mạch rỗng bên trong như cọng hành
- Chủ bệnh chứng thương âm (mất máu cũng như mất nước)
* Các  dạng mạch không theo quy luật
17. Mạch xúc: Mạch nhanh cấp có lúc dừng lại không có quy luật
- Chủ bênh:
          + Mạch xúc hữu lực chủ dương thịnh, thực nhiệt. khí huyết đàm ẩm thức ăn trở trệ
          + Mạch tế xúc vô lực là chứng hư thoát
18. Mạch kết: Mạch đến chậm có lúc dừng lại không có quy luật.
- Chủ bệnh: âm thịnh khí kết. hàn đàm ứ huyết, khí uất không điều hòa thường thấy mạch kết.
19. Mạch đợi: mạch nửa chừng dùng lại có quy luật nhất định
- Chủ bệnh khí huyết hư nhược, chứng phong gây đau đớn
          Khiêm mạch (kết hợp mạch) cũng như chủ bệnh
STT
CÁC LOẠI MẠCH
CHỦ BỆNH
1
Phù khẩn
Chứng biểu hàn, chứng đau khớp do phong gây ra
2
Phù hoãn
Chứng biểu hàn có ra mồ hôi
3
Phù sác
Chứng biểu nhiệt, chứng phong nhiệt
4
Phù hoạt
Phong đàm, biểu chứng kèm them đàm thấp
5
Trầm trì
Thuộc lý hàn
6
Trầm khẩn
Lý hàn cũng như đau
7
Trầm sác
Lý nhiệt
8
Huyền trì
Hàn gây đau ở kinh mạch can
9
Huyền khẩn
Hàn gây đau cũng như hàn gây ứ trệ ở kinh can
10
Huyền sác
Can nhiệt
11
Trầm hoạt
Đàm ẩm thực tích
12
Trầm huyền
Can uất khí trệ, chứng đau
13
Hồng sác
Nhiệt thịnh ở khí phận
14
Hoạt sác
Đàm nhiệt, đàm hỏa
15
Trầm sáp
Ứ huyết
16
Trầm tế
Lý hư, khí huyết hư, âm hư
17
Trầm tế sác
Âm hư, huyết hư sinh nội nhiệt
18
Huyền tế
Can thận âm hư, âm hư can uất
19
Tế sáp
Huyết hư kèm ứ huyết
20
Nhu hoãn
Bệnh ở tỳ vị, bệnh mãn tính
2. Sờ nắn: Sờ nắn để xem vị trí cũng như tính chất của bệnh, thường xem tại da thịt, tay chân cũng như bụng
a/ Sờ nắn da thịt: Cần chú trọng cũng như các tính chất sau
* Hàn cũng như nhiệt
- Nóng ở ngoài da, ấn sâu cũng như giảm: biểu nhiệt .
- Ở ngoài da nóng vừa, càng ấn càng thấy nóng là lý nhiệt
- Lòng bàn tay nóng, cảm giác da nóng bừng bưng nhưng không sốt là hư nhiệt (âm hư hỏa vượng)
* Khô nhuận:
- Da nhuận trơn: tân dịch chưa bị tổn thương
- Da khô táo: tân dịch giảm, ứ huyết.
* Phù: ấn mạnh vết lõm còn là thủy thũng; vết lõm nổi lên ngay là khí thũng
* Mụn nhọt: sưng, không nóng đỏ là âm thư (áp xe lạnh); sưng nóng đỏ đau là dương thư (áp xe nóng)
b/ Sờ nắn tay chân: Chủ yếu là xem về hàn cũng như nhiệt
-         Tay chân lạnh, sợ lạnh là dương hư.
-         Tay chân nóng nhiều cũng như đều là nhiệt thịnh
-         Nóng ở mu bàn tay là do biểu nhiệt (nhiệt thịnh ngoại cảnh)
c/ Sờ nắn bụng(phúc chẩn) tùy theo vị trí xem tạng phủ nào có bệnh, cần trú trọng cũng như cơn đau, cũng như ứ trệ của khí huyết, cũng như hư thực của bệnh tật
- Thiện án (thích xoa bóp) thuộc hư chứng; cự án (không thích xoa bóp) thuộc về thực chứng.
- Bụng có khối rắn, đau, theo vị trí giải phẫu mà có lien tưởng đếm bệnh tương ứng; khối ứ huyết lúc có lúc tan; ấn cũng như không thấy hình thể, không điểm đau khu trú một nơi nhất định thường do khí trệ.

Share:

Nhận Xét Mới

Nhận Tin Mới

BTemplates.com

Labels